Gia sư Cần Thơ, Dạy Kèm Cần Thơ

VỮNG TIN - TIẾP BƯỚC - THÀNH CÔNG


Quản lý gia phả - SVTH: Lê Thị Sương 2005

Share

admin
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 1207
Points : 3010
Join date : 11/11/2009
Age : 35
Đến từ : Cần Thơ

Quản lý gia phả - SVTH: Lê Thị Sương 2005

Bài gửi  admin on Thu Jul 15, 2010 2:29 pm

Quản lý gia phả - SVTH: Lê Thị Sương 2005


Ứng dụng Web: Aspx + Sql Server


TỔNG QUAN
1. Giới thiệu về gia phả
Cuốn Gia phả là một tập sách mỏng viết bằng chữ nho, trong đó chép tên tuổi cụ kỵ, ông bà. Ngoài đóng bìa cứng phết cậy hoặc sơn quang dầu đen sẫm mà các cụ nhà ta khi xưa thường trịnh trọng cất trong một chiếc khám nhỏ sơn son thiếp vàng để ở trên bàn thờ gia tiên hoặc cuộn tròn lại bỏ vào trong một ống tre dắt ở kèo nhà.
Vậy Gia phả là quyển sách ghi chép liên tục đời này tiếp qua đời khác tên tuổi tổ tiên và con cháu của một nhà, một họ hay một giòng vua, chỉ dùng trong phạm vi một nhà. Gia phả khác với sách lịch sử là sách lịch sử bao gồm hết thảy sự việc hoặc hành động của nhiều người ở nhiều họ khác nhau có liên quan mật thiết đến quốc gia và được phổ biến công khai.
2. Đặt vấn đề
Nhà có gia phả cũng như nước có sử ký, sử ký ghi chép lịch sử của đất nước, Gia phả ghi chép thế hệ tổ tông của một họ, nếu họ không có gia phả thì con cháu ngày một xa cách, thân thuộc ngày một mơ hồ, không do đâu mà tra cứu được, nên gia phả không những cần phải có, mà cũng cần phải ghi chép rõ ràng liên tục, thì con cháu đời sau mới hiểu rõ được nguồn gốc cũng như sự liên hệ trong thân tộc của mình.
Việc lập gia phả trong thực tế bằng cách viết tay thì thường rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, tìm kiếm các thành viên trong họ. Tuy nhiên, nếu chúng ta áp dụng những công nghệ máy tính để tiến hành công việc này thì nó trở nên dễ dàng, tiện lợi, nhanh chóng, chính xác. Vì thế, từ những nhu cầu thực tiễn của cuộc sống cùng với sự phát triển công nghệ thông tin đã hình thành nên ý tưởng “XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIA PHẢ” nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
3. Mục tiêu của đề tài
Xây dựng phần mềm quản lý gia phả nhằm 2 mục tiêu:
• Giúp cho những người chưa có gia phả có thể tạo dựng cho gia đình mình một gia phả một cách dễ dàng, nhanh chóng.
• Giúp cho những người đã có gia phả có thể dễ dàng chuyển từ quản lý bằng thủ công sang quản lý bằng máy tính.
Tại sao ta nên quản lý gia phả bằng máy tính, đó là vì việc ghi chép, tra cứu, giữ gìn, bảo quản gia phả để lại cho thế hệ sau sẽ phức tạp khó khăn trong việc quản lý bằng thủ công. Những khó khăn này được khắc phục khi quản lý bằng máy tính, cụ thể là quản lý gia phả có thể làm được như sau:
4. Những đối tượng mà đề tài nghiên cứu
Cho phép người dùng:
• Tạo mới thông tin gia phả.
• Tra cứu hệ thống chi phái, duệ hiệu các vị tổ tiên.
• Tra cứu họ tên, năm mất, số thành viên vv…
• Thống kê chi phái trên toàn quốc, các đời truyền thừa và danh sách các vị tổ tiên trong các chi phái trên toàn quốc.
• Thống kê theo đơn vị tỉnh thành.

CHƯƠNG 1
HIỆN TRẠNG VÀ YÊU CẦU

I.1. Hiện trạng về mặt tổ chức
I.1.1 Cơ cấu tổ chức của gia phả

Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của gia phả

Nội dung của một cuốn gia phả gồm có ba phần sau: Phần chính phả, Phần ngọai phả và Phần phụ khảo.
PHẦN CHÍNH PHẢ
• Lời nói đầu.
• Phả ký.
• Tộc hệ (chép tên tuổi).
• Kỷ sự cùng tiểu dẫn, biến cố, thời cuộc …
Phả ký, Tộc hệ, Kỷ sự được coi là thành phần quan trọng nhất của cuốn gia phả, trong đó mục Kỷ sự thì có thể có hay không cùng được. Mục Phả ký và Tộc hệ là những mục rất quan trọng, chiếm gần trọn nội dung của bất kỳ một cuốn gia phả nào. Hai mục này luôn luôn đi với nhau, như chính “linh hồn” của Gia phả vậy.
Mục Phả ký cho người ta biết khởi thuỷ dòng họ phát tích từ đâu, còn mục Tộc hệ thì gồm hết thảy danh tính của những người trong họ.
Trong Gia phả, có thể không cần đến mục Kỷ sự, nhưng không thể bỏ được một trong hai mục Phả ký và Tộc hệ. Thật ra mục Kỷ sự cũng không cần thiết lắm, ngoại trừ các nhà đại gia muốn chép sự việc riêng của một nhà hay một ngành, còn trong nhân gian ngoài tên tuổi, giỗ tết cũng không có gì quan trọng nên mục này ít người để ý đến.
Trong Gia phả cũng còn một mục khác nữa tuy nó không quan trọng cho lắm song lại thường đứng ở ngay trên đầu cuốn gia phả, nghĩa là ngay trước phần Chính phả. Đó là phần Dẫn nhập .
Mở đầu một cuốn gia phả thường có đoạn văn dài, ngắn không chừng tuỳ theo cảm tưởng của người chép phả đối với tổ tiên dòng họ. Đoạn văn đó gọi là đoạn “Dẫn nhập”, tức là lời tựa hay lời mở đầu của cuốn gia phả.
a. Phả ký
Phả ký là lời trần thuật tiểu sử của ông thuỷ tổ (cũng thường gọi là sơ tiên tổ, hoặc khởi tổ) đã có công gầy dựng nên dòng họ. Trong bài Phả ký thường thường người ta nhấn mạnh đến sự nghiệp công đức đối với làng nước. Về tiểu sử thì người ta kể rõ tông tích lai lịch ông bà tổ tiên trước kia ở đâu di cư đến đây, di cư từ năm nào hoặc đời nào (đời ông tổ thứ mấy…) ông bà tổ sinh được mấy ngành (chi, gia đình), những ngành nào, với phần mộ, giỗ tết …
Nói tóm lại Phả ký thường là một bài văn sách thuật tóm tắt hoặc tỉ mỉ tông tích và công cuộc dựng nghiệp của ông tổ đầu tiên của một dòng họ, hoặc của một ông tổ trong ngành (thường là ngành thứ) tách ra đứng riêng thành một chi phái khác.
b. Tộc hệ
Tộc hệ là mục chép tên tuổi. Trong các mục của gia phả thì có mục Tộc hệ là tương đối đơn giản hơn, mục này mô tả thông tin về tên tuổi của người trong họ. Đây là phần chủ chốt trong cuốn gia phả, còn quan trọng hơn cả mục Phả ký, Kỷ sự, bao gồm hết thảy tên tuổi danh tính các người trong họ từ ông thuỷ tổ trở xuống cho đến hàng con cháu. Khi xem phần Tộc hệ người ta có thể biết rõ các đời, hiểu hết được tông ti của một dòng họ cùng với sự liên hệ xa gần giữa các ngành (chi, gia đình) và con cháu của họ ấy.
Nguyên tắc chép Tộc hệ
Khi chép Tộc hệ, người ta luôn áp dụng theo một nguyên tắc nhất định là: Trên dưới - Đích thứ - Nội ngoại. Thường khi chép về nội, ngoại thì bao giờ cũng phải kể con trai trước con gái sau, hàng dâu trước, hàng rể sau.
Khi chép Tộc hệ ta nên kiểm tra kỹ từ gốc là ông thuỷ tổ cho tới ngọn là con cháu. Thoạt tiên là ông thuỷ tổ, tiếp đến là ông tổ các chi, rồi đến con cháu của các chi, từ chi trong là chú bác ruột đến chi ngoài là chú bác họ, hết chi gần đến chi xa… cứ thế đi lần mãi xuống tới con cháu.
Nói tóm lại là muốn chép Tộc hệ cho đúng với thứ bậc ngôi vị trong gia đình gia tộc thì người làm gia phả phải hiểu rõ nguyên tắc: Trên dưới - Đích thứ - Nội ngoại của cổ nhân như sau: trước chép tổ tiên cụ kỵ, thứ đến ông bà rồi tới cha mẹ chú bác và cô chú (rể) sau cùng mới tới ngành khác.
Về chú bác chép chú bác ruột (gần) sau đến chú bác họ (xa). Về con cháu chép dòng trưởng trước dòng thứ sau … con bà chính thất chép trước, tiếp theo là con bà thứ thất, con các thê thiếp chép sau. Bao giờ cũng chép nội trước ngoại sau với đầy đủ những người liên hệ của con trai. Riêng về hàng cậu, dì hay con của cậu, con dì, theo nguyên tắc thì không chép, vì những người đó thuộc họ của mẹ hoặc của vợ họ không liên quan đến dòng họ của mình chép sau.
Nguyên tắc này giúp cho người cùng một họ nhận thức được bổn phận và cương vị của mình, tuy nhiên không thể áp dụng vào đời sống thực tế được, vì nó có rất nhiều cái rất phức tạp thường không phù hợp với đời sống thực tế.
Cách thức chép tộc hệ
• Lập dòng họ theo hệ thống ngang
Hệ thống ngang cho biết những người ngang vai với nhau.
Tỉ dụ như Thuỷ tổ sinh được hai người con trai. Tính theo can chi thì người con trưởng đứng đầu chi Giáp, người con thứ đứng đầu chi Ất, mỗi người là ông tổ đứng đầu một ngành (chi).
Theo hệ thống này thoạt tiên người ta chép chi Giáp là chi trưởng trước rồi tới chi At chi thứ sau. Tức là kể hết một đời của chi Giáp thì lại kế tiếp một đời của chi Ất với nguyên tắc cố định là trưởng của chi Giáp thì đi với trưởng của chi Ất hoặc ông tổ đời nào thì đi với ông tổ đời đó. Theo thể thức ông đi với hàng ông, cha đi với cha, con đi với con … nhưng vẫn giữ ngang hàng với nhau.
 Lập dòng họ theo hệ thống dọc
Trái hẳn với hệ thống ngang, hệ thống dọc không chú trọng tới sự ngang vai giữa các đời mà họ lại chú trọng tới sự liên hệ trực tiếp của những đời ngang vai ấy và chép ngành nào dứt ngành nấy.
Theo hệ thống dọc người ta kể trọn ngành của chi Giáp xong rồi mới kể đến chi At và cũng kể trọn ngành của chi At, và cứ chép tới nghành nào thì người ta chép luôn con cháu dâu rể, nội ngoại của ngành ấy.
c. Kỷ sự
Trong các tập gia phả ta thường gặp những bài có thể văn khác nhau mà người xưa phân tách ra, gọi đó là“Phả ký” hoặc “Kỷ sư”.
Kỷ sự kể về tiểu sử của một người hay kể sự việc riêng tư của một ngành hoặc cũng có khi kể tiểu sử nhiều người trong một ngành nào đó mà trong đó đặc biệt người ta chú trọng nhiều đến đời tư của những người ấy.
Còn ngược lại, Phả ký thường chú trọng đến nguồn gốc lai lịch của dòng họ với một số hàng tiểu sử tóm tắt sơ lược tông tích tổ tiên. Do đó khi mở một cuốn gia phả ra xem thì người ta chú ý ngay đến bài Phả ký trần thuật ông thuỷ tổ của họ, tức là người đầu tiên lập ra họ ấy để coi họ phát tích từ đâu, ông thuỷ tổ khởi đầu lập nghiệp ra sao vv…
PHẦN NGOẠI PHẢ
• Việc cúng giỗ hàng năm.
• Nhà thờ.
• Phần mộ (mồ mả).
• Văn khấn.
• Kỵ điền (ruộng giỗ).
a. Về cúng giỗ
Bao gồm giỗ chính và giỗ phụ. Giỗ chính là giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, giỗ phụ như là giỗ các ông chú bà cô chết yểu ta thường gọi là giỗ dại hay giỗ mọn. Ngoài ra hàng năm còn có thêm các ngày cúng giỗ khác như thanh minh, tuần tiết … Tuy nhiên trong gia phả chỉ ghi các ngày giỗ chính.

b. Về nhà thờ
Bao gồm nhà thờ họ (Đại tôn) và nhà thờ riêng của các phân chi. Thường thường thì họ nào càng đông con cháu thì càng có nhiều nhà thờ, chẳng hạn nhà thờ Ngũ chi, Thất chi, Bát chi vv… (ta thường gọi là nhà thờ bản chi ).
Để chép về nhà thờ thì trước hết nên để ý đến vị trí phương hướng, rồi tới kích thước rộng hẹp bao nhiêu, nhà thờ có mấy gian, gian nào thờ tổ, gian nào thờ ông bà, chỗ nào thờ ông dại chỗ nào thờ thổ công …, cũng nên kể thêm nhà thờ lợp tranh hay lợp ngói, cách kiến trúc cách bài trí bên trong nhà thờ ra sao và kèm sơ đồ (nếu có).
c. Về mồ mả
Nếu như họ nào còn nhớ được mộ phần, lăng tẩm của tổ tiên cụ kỵ … thì cũng nên ghi chép lại để cho con cháu đời sau biết.
d. Về văn khấn
Như ta đã biết dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc rất sùng việc lễ bái. Có thể nói hầu hết các gia đình Việt Nam còn theo tục cúng lễ nên việc thờ cúng thần phật, tổ tiên luôn luôn được đặt lên hàng đầu.
Về văn khấn, trừ văn khấn ngày giổ củng còn nhiều loai văn khấn khác nữa như văn khấn Đêm Giao thừa, văn khấn lễ Dâng sao, các ngày Thánh đản, Phật đản vv… Tuy nhiên các bài văn khấn đều giống nhau, vì bài nào cũng có 5 mục sau đây :
• Niên hiệu (Duy Tân năm thứ mấy )…
• Tên họ, sinh quán, địa chỉ người dâng lễ, tức gia chủ.
• Lễ vật: gồm cổ bàn, hoa quả …
• Duệ hiệu: Gồm tên tuổi, sinh quán, ngày mất, chức phận gia tiên (Gia tiên chỉ chung cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, vợ chồng )
• Chính văn: lời khấn trong buổi lễ.
e. Về kỵ điền (ruộng giỗ)
Ở nhà quê xưa kia, những họ khá giả thường có giành riêng một số ruộng đất gọi là ruộng hương hoả để lấy hoa lợi dành vào việc cúng giỗ hàng năm.
PHẦN PHỤ KHẢO
• Làng mạc, phong tục tập quán …
• Phụ lục: các mục linh tinh
a. Về làng mạc
Ghi rõ làng mình ở về hướng nào, thuộc tỉnh, phủ, huyện nào, diện tích ruộng bao nhiêu sào …
Đây là cấu trúc chung và đầy đủ nhất của một cuốn gia phả. Tuy nhiên không phải cuốn gia phả nào củng phải có cấu trúc như thế này.
I.1.2. Cơ cấu tổ chức của gia tộc


Hình 2.2. Cơ cấu tổ chức của gia tộc

Gia tộc Việt Nam xưa và nay thường có hai bậc:
• Nhà hay còn gọi là tiểu gia đình gồm cha, mẹ, vợ, chồng và con cái.
• Họ hay còn gọi là chi, ngành, đại gia đình gồm tất cả mọi người cùng chung một ông tổ sinh ra.
Gia tộc thì có nhiều chi gồm một chi trưởng và nhiều chi thứ. Trong mỗi chi thì có nhiều gia đình, trong mỗi gia đình thì có nhiều thành viên.
Trong một gia đình thì thường có cha mẹ, trên ba mẹ là ông bà nội, trên ông bà nội có cụ nội, trên cụ nội có kỵ rồi đến các ông bà tổ xa ở bên trên cho đến thuỷ tổ. Ở dưới thì có con, có cháu rồi đến chắt, dưới chắt là chút, còn ở dưới nữa gọi chung là viễn tôn.
Đồng hàng với mình là anh, chị, em ruột. Anh em trai của cha gọi là bác chú hoặc bá phụ và thúc phụ. Chị em gái của cha là cô hoặc cô mẫu. Con bác và chú đối với mình là anh em con chú hay con bác, con cô đối với mình là anh chị em con cô con cậu .
Trong gia đình thì gồm có thành viên trong họ (anh, chị, em, ba, chú, bác…) và thành viên ngoài họ (dâu, rể, cháu ngoại …).
Trong một gia đình thì người gia trưởng là người đứng đầu (tức người cha), khi người gia trưởng chết đi thì các con trai, từ con trưởng đến con thứ, nếu có vợ con rồi thì mỗi người thành gia trưởng của một gia đình riêng, cũng có đủ quyền hành như cha thuở trước, trong phạm vi của gia đình ấy. Còn người con trai trưởng, tức là con cả, thì vừa làm chủ gia đình riêng vừa làm trưởng chi họ gồm gia đình của mình và các gia đình của những em trai.
Riêng các em trai thì làm gia trưởng của các gia đình nhỏ của mình, mỗi người có thể có nhiều con trai, thì những con trai ấy lại lập gia đình riêng, và cứ thế mãi, chi họ ngày càng lớn rồi chia làm nhiều phân chi.
Qua sự sinh sôi nảy nở, mỗi người đàn ông có thể làm chủ một nhà và làm trưởng một chi họ. Tất cả các chi họ gộp lại thành họ lớn, tức là gia tộc, người đứng đầu chi trưởng (nghĩa là chi đàn anh lớn nhất) gọi là tộc trưởng hay trưởng tộc.
Đây là cách phân chia gia tộc của miền Bắc và Trung theo thứ tự đích trưởng còn ở miền Nam trưởng tộc là người lớn tuổi hoặc người có đức cao trọng vọng.
I.1.3. Chức năng của các thành viên
* Thành viên ngoài ho: Là những người có thể khác họ, không cùng huyết thống nhưng có thể có quan hệ với các thành viên trong họ như: dâu, rể, cháu ngoại… Họ là một phần không thể thiếu trong dòng họ nhưng hoàn toàn không có quyền xử lý những vấn đề xảy ra trong họ. Thành viên ngoài họ được phép tra cứu thông tin chung của dòng họ.
* Thành viên trong họ: Là những người mang cùng một họ cùng xuất phát từ một nguồn gốc và có quan hệ huyết thống với nhau qua các đời. Đây là các đối tượng mà gia phả quản lý. Thành viên trong họ có quyền đóng góp ý kiến với những thành viên khác để giải quyết vấn đề nảy sinh trong họ.
* Gia trưởng: Cũng là thành viên trong họ nhưng đồng thời cũng là người đứng đầu của gia đình (đây thường là người cha trông trường hợp còn ông bà nội thì ông nội là gia trưởng) nên có quyền ghi chép gia phả của gia đình, và có quyền yêu cầu tộc trưởng thêm thành viên của gia đình vào gia phả của dòng họ và thờ phụng cha mẹ.
* Tộc trưởng hay trưởng tộc: Cũng là thành viên trong họ và cũng là người đứng đầu của cả họ nên có thêm quyền ghi chép gia phả của cả họ và thờ cúng tổ tiên của cả họ, có quyền dự tất cả mọi cuộc hợp liên quan đến gia tộc của các chi họ, có quyền phân xử những việc tranh chấp trong họ …
I.2. Hiện trạng về mặt nghiệp vụ
I.2.1 Nghiệp vụ quản lý thành viên
Thông tin của thành viên gồm: mã thành viên, tên thành viên, ngày tháng năm sinh, ngày tháng năm mất, giới tính, tôn giáo, dân tộc, đời …
Khi có thành viên mới xuất hiện thì gia trưởng sẽ thêm thành viên đó vào gia phả (gia phổ hay thế phả) của gia đình và cứ đến ngày giỗ của họ hay cứ mỗi 30-50 năm nó được trưởng tộc cập nhật hoá một lần và làm ra các bản (gia phả) mới.
Khi thêm mới thành viên vào gia phả của gia đình cần phải xác định rõ chức vụ của thành viên trong gia đình là một trong những chức vụ sau: con, con dâu …
Mỗi thành viên cư ngụ tại một địa chỉ duy nhất.
I.2.2 Nghiệp vụ quản lý gia đình
Thông tin của gia đình gồm: mã gia đình, tên gia đình, ngày bắt đầu, ngày kết thúc …
Khi có gia đình mới xuất hiện thì trưởng của chi sẽ thêm gia đình đó vào gia phả (gia phổ hay thế phả) của chi và cứ đến ngày giỗ của họ hay cứ mỗi 30-50 năm nó được trưởng tộc cập nhật hoá một lần và làm ra các bản (gia phả) mới.
Khi thêm gia đình mới vào gia phả cần phải xác định rõ gia đình đó phải có ít nhất là 2 đời (đời cha và đời con).
I.2.3 Nghiệp vụ xây dựng cây gia phả
Xây dựng cây gia phả cho phép người dùng thao tác trực tiếp lên cây để tra cứu các thông tin.



I.3 Yêu cầu chức năng
I.3.1 Yêu cầu chức năng nghiệp vụ
* Lưu trữ
• Họ tộc: mã họ tộc, tên họ tộc, tên người khởi thuỷ, nguồn gốc …
• Gia đình: mã gia đình, tên gia đình, ngày bắt đầu, ngày kết thúc…
• Thành viên: mã thành viên, tên thành viên, giới tính, ngày tháng năm sinh, ngày tháng năm mất, nơi an táng, giới tính, dân tộc, tôn giáo, hình, đời thứ …
• Tiểu sử: mã tiểu sử, nội dung tiểu sử…
• Tỉnh - TP: mã tỉnh, tên tỉnh, ghi chú…
• Quốc gia: mã quốc gia, tên quốc gia, ghi chú…
• Ngày lễ: mã ngày lễ, tên ngày lễ, nội dung ngày lễ …
• Góp ý: mã góp ý, nội dung góp ý, ghi chú …
* Tra cứu
• Thông tin chung: chi phái, duệ hiệu, danh sách của các vị tổ tiên.
• Thông tin cá nhân như: họ tên, năm mất, số con cháu…
* Tính toán
Tính số con cháu trong chi phái hay dòng họ…
* Thống kê
• Thống kê về các chi phái trên toàn quốc.
• Thống kê về các đời truyền thừa và danh sách các vị tổ tiên trong các chi phái, số con cháu trên toàn quốc.
• Thống kê theo đơn vị tỉnh thành.


I.3.2 Yêu cầu chức năng hệ thống
* Đối với người sử dụng bình thường (thành viên ngoài họ khách vãng lai): Hệ thống cung cấp một cơ chế cho phép nhiều người sử dụng mọi người đều có hể truy cập để xem các thông tin thông qua hệ thống, người sử dụng có thể xem được tất cả các thông tin mà hệ thống gia phả cho phép.
Ngoài ra thành viên ngoài họ cũng có thể có các quyền như thành viên trong họ nếu tộc trưởng cho phép.
* Người sử dụng thành viên (những thành viên trong họ): Khi tham gia hệ thống thì phải có tài khoản. Những thành viên này có thể đóng gớp ý kiến của mình thông qua mục gớp ý của hệ thống, từ đó người quản trị hệ thống sẽ có những điều chỉnh để hệ thống hoạt động ngày một tốt hơn.
Còn những thành viên như gia trưởng thì có quyền thêm, xoá, sửa thành viên trong gia đình mình. Thành viên tộc trưởng thì có thêm quyền thêm, xoá sữa các thành viên, gia đình.
* Người quản trị: Cấp xoá quyền cho các thành viên tham gia vào hệ thống, thay đổi cấu trúc hiển thị trang web.
I.4 Yêu cầu phi chức năng
• Thực hiện đúng yêu cầu đề ra.
• Giao diện: trình bày rõ ràng, trực quan, sinh động tạo cảm giác thân thiện với người sử dụng.
• Tính an toàn bảo mật cao, có phân quyền cho người sử dụng.

Download: tại đây!!!

    Hôm nay: Mon Dec 05, 2016 11:33 pm